NỘI DUNG
VỤ ÁN:
Tại Đơn đề
nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật đề ngày 28/6/2017 và lời khai trong quá
trình tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị S và người đại diện theo ủy quyền cùa
bà S là chị Lương Thị T trình bày:
Bà S và ông
Phạm Bá H chung sống, có tổ chức đám cưới theo phong tục của địa phương và đã
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) P, thành phố U, tỉnh Q
ngày 23/11/1980. Tháng 4/1981, vợ chồng bà S, ông H sang Hồng Kông và sau đó được
nhập cư tại Canada. Đến năm 2008, vợ chồng bà S, ông H trở về Việt Nam sinh sống
tại nhà số 24, Tổ 14, Khu 03 phường T, thành phố U, tỉnh Q (sổ hộ khẩu số
500296496 ngày 03/11/2014, họ và tên chủ hộ: Phạm Bá H; quan hệ với chủ hộ: vợ
Nguyễn Thị S). Quá trình chung sống, ông bà sinh được 03 nguời con chung là anh
Phạm Hồng K, sinh năm 1981 chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1984 và chị Phạm Thị
Thu H2, sinh năm 1991. Hiện tại các con của bà S và ông H đều đang định cư tại
Canada.
Từ năm 2011,
khi ông H có quan hệ ngoại tình với bà Nguyễn Thị L thì vợ chồng bà S và ông H
thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Bà S bị ông H đánh đập, đuổi ra khỏi
nhà, nên bà S đã sang Canada chơi với các con cho khuây khỏa. Mấy tháng sau,
khi bà S trở về thì ông H đã đón bà L cùng con chung của hai người về nhà bà S,
ông H ở và không cho bà S vào nhà mặc dù bà S đã báo với chính quyền địa phương
can thiệp giải quyết. Nay bà S biết được ông H và bà L đã đăng ký kết hôn theo
Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 17/4/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh
Q. Do đó, bà S yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Q hủy việc kết hôn trái pháp luật
giữa ông Phạm Bá H với bà Nguyễn Thị L.
Người đại diện
theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Q trình bày:
Ủy ban nhân
dân thành phố M khẳng định thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn và cấp
Giấy chứng nhận kết hôn cho bà Nguyễn Thị L và ông Phạm Bá H là đảm bảo đúng
quy định của pháp luật. Nay bà S có đơn khởi kiện yêu cầu tuyên hủy việc kết
hôn giữa bà L và ông H là trái pháp luật; nếu có căn cứ thì đề nghị Tòa án nhân
dân tỉnh Q giải quyết việc dân sự trên theo quy định pháp luật.
Tại Quyết định
giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 01/2018/QĐDS-ST ngày 02/02/2018, Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Ninh quyết định:
- Chấp nhận
yêu cầu “ Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của bà Nguyễn Thị S.
- Hủy việc kết
hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết
hôn số 09 đăng ký ngày 17/4/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Q. Buộc
ông H và bà L phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
- Giao con
chung của ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L là cháu Phạm Thành Đ, sinh ngày
12/12/2015 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi
cháu Đ đủ 18 tuổi. Ông Phạm Bá H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H có
quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra,
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về lệ phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày
23/02/2018, bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo đối với Quyết định nêu trên.
Tại phiên họp
phúc thẩm, ông Phạm Bá H trình bày:
Năm 1980,
ông H có quen biết bà Nguyễn Thị S nhưng không có chuyện tổ chức đám cưới hay
chung sống với nhau ngày nào khi ở Việt Nam. Năm 1981, khi sang Hồng Kông, ông
và bà S gặp lại nhau mới trở nên thân thiết chung sống với nhau. Mặc dù có con
chung nhưng ông bà không đăng ký kết hôn, độc lập kinh tế, tài sản. Do đó, Tòa
án cấp sơ thẩm căn cứ vào Nghị quyết 35/2000/NQ- QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội
để xác định giữa ông và bà S là quan hệ hôn nhân thực tế là không có căn cứ.
Quan hệ hôn
nhân giữa ông với bà Nguyễn Thị L là hợp pháp vì hai bên có đăng kí kết hôn.
Trước khi thực hiện thủ tục đăng kí kết hôn, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành
xác minh tại nhiều nơi, trong đó có việc xác minh lãnh sự quán Việt Nam tại
Canada về việc ông chưa đăng ký kết hôn với bất cứ ai, không đang trong thời kỳ
hôn nhân với ai.
Tại phiên họp
phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L là ông Đặng Thành V
trình bày: Đề nghị Tòa án bác đơn yêu cẩu của bà S về việc hủy hôn nhân hợp
pháp giữa ông H và bà L, ông H và bà S có chung sống với nhau ở Hồng Kông nhưng
không đăng ký kêt hôn. Năm 2008, ông H về nước trước, ông H và bà S không chung
sống với nhau như vợ chồng ở Việt Nam mà chỉ cùng tổ chức đám cưới cho các con.
Tại Quyết định
phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019, Tòa án nhân
dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định:
Chấp nhận
kháng cáo của bà Nguyễn Thị L và sửa Quyết định giải quyết việc dân sự sơ thẩm
số 01/2018/QĐDS-ST ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Q về việc không chấp
nhận yêu cầu "Hủy việc kết hôn trái pháp luật" của bà Nguyễn Thị S.
Công nhận quan hệ giữa ông Phạm Bá H và bà Ngụyễn Thị L là quan hệ hôn nhân hợp
pháp, theo giấy chúng nhận kết hôn số 09 đăng ký ngày 17/4/2017 của UBND thành
phố M, tỉnh Q.
Ngoài ra,
Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về lệ phí và chi phí ủy thác tư pháp.
Ngày
06/02/2020, bà Nguyễn Thị S có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc
thẩm đối với Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS
ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, yêu cầu tuyên hủy việc kết
hôn trái pháp luật giữa ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị L.
Ngày
27/4/2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định kháng nghị giám
đốc thẩm số 05/2021/KN-HNGĐ đối với Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự
số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc
“Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” giữa người yêu cầu giải quyết việc
dân sự là bà Nguyễn Thị S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm
Bá H, bà Nguyễn Thị L và Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Q. Đề nghị Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Quyết định phúc thẩm
giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp
cao tại Hà Nội và giữ nguyên Quyết định giải quyết việc dân sự số
01/2018/QĐDS-ST ngày 02/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Q. Tạm đình chi thi
hành Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2019/QĐPT-DS ngày
18/9/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội cho đến khi có quyết định giám
đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Tại phiên họp
giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số
05/2021/KN-HNGĐ ngày 27/4/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét