NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2004 và
các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - chị Trần Thị Trọng P1 (do bà Trần
Thị S đại diện theo ủy quyền cho
nguyên đơn) trình bày:
- Năm 1969, ông Trần Thế T1 chung sống với bà Tô Thị
T2 sinh được 02 người con là Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3. Do mâu thuẫn vợ chồng
nên bà T2 đã bỏ đi vào Vũng Tàu sinh sống và kết hôn với người khác. Năm 1985,
ông T1 chung sống với bà Trần Thị S có con chung
là Trần Thị Trọng P1.
- Năm 1987, Ủy ban nhân dân
thị xã K đã cấp cho ông T1 diện tích 8.500m2 đất vườn tại phường
Q (nay là phường D), thị xã K. Sau khi được cấp đất, ông T1 và bà S vẫn đang ở tại
nhà cha mẹ bà S nên chỉ đến để trồng cây trên phần đất đã được
cấp. Năm 1993, ông T1 có “đơn xin giao đất xây dựng nhà ở” có nội
dung gia đình ông có 05 người hiện đang ở nhờ nhà cha mẹ
vợ và đề nghị giải quyết xin lô đất để làm nhà ở; sau đó, ông T1 và bà S đã làm nhà ở
trên phần đất này. Năm 2000, ông T1 và bà S lại có đơn xin
xác nhận quyền sở hữu nhà ở thể hiện nhà làm ở trên diện tích
đất nêu trên là của ông và bà S. Ngày
26/3/2003 (AL) ông T1 chết không để lại di chúc, toàn bộ
tài sản do anh P2 và anh P3 quản lý sử dụng.
- Ngày 08/10/2004, chị P1 khởi kiện yêu cầu
chia thừa kế đối với di sản của ông T1 để lại. Tại bản
tự khai ngày 15/4/2009 chị P1 rút yêu cầu chia di sản đối với heo, gà,
ba ba và tủ thờ và đề nghị Toà xem xét, đo đạc lại diện tích đất, không yêu cầu
định giá lại.
* Bà Trần Thị S cũng có đơn yêu cầu chia tài sản chung giữa bà và ông Trần Thế T1. Theo bà S trình bày:
- Trong thời gian chung sống với ông T1, bà và ông T1 có tạo lập được khối tài sản chung gồm có 01 ngôi nhà cấp 4 trên diện tích 36m2 nằm trên tổng diện tích đất 8.500m2 (nay còn lại 6.403m2), 01 xe máy Trung Quốc, 02 máy bơm nước, 450kg cà ri, 05 con heo, 70 con gà, 22 con thỏ, 01 hồ cá, 01 tủ trà - bà đề nghị bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bà.
- Tại bản tự khai ngày 15/4/2009 bà S yêu cầu Tòa án giải
quyết chia tài sản chung giữa bà và ông T1, đồng thời
chia di sản thừa kế của ông T1 cho bà, chị P1, anh P2, anh
P3 đối với diện tích đất còn lại, kể cả diện tích đất mà
anh P3 và anh P2 đã bán cho ông L và ông C.
* Bị đơn là anh Trần Trọng P2 và Trần Trọng
P3 trình bày:
- Tài sản trên là do ông T1 và hai anh tạo
lập được, bà S không có công sức gì nên không đồng ý chia cho
bà S. Về yêu cầu chia thừa kế
cho chị P1 thì anh P2 và anh P3 yêu cầu trưng cầu giám định ADN để xác định
hàng thừa kế theo quy định của pháp luật.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trình bày:
- - Bà Tô Thị T2 trình bày: Bà và ông T1 kết hôn năm 1969 (có giấy đăng ký nhưng bị mất). Bà và ông T1 có 02 con chung là anh P2 và anh P3. Năm 1982, bà bỏ vào Vũng Tàu và sinh sống với ông Trần Sinh D có 03 con chung. Năm 1985, ông T1 và bà S chung sống với nhau đến năm 2003 thì ông T1 chết, hai người cũng có một số tài sản chung. Nếu được hưởng thừa kế di sản của ông T1 thì phần của bà được chia sẻ cho anh P2, anh P3.
- - Ông Chu Đình M trình bày: Khi ông T1 còn sống có
vay của ông 8 triệu đồng. Anh P2, anh P3 đã trả được hết cho ông, nay ông không
có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
- - Bà Lâm Thị H trình bày: Năm 2002, bà S có vay của bà
17 triệu đồng để sửa nhà và cưới vợ cho anh P3. Sau đó, bà S trả được 8 triệu
đồng, nay bà S còn nợ 9 triệu đồng, đề nghị Tòa án buộc bà S trả lại số tiền
9 triệu đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là anh Lê Văn L khai: Năm 1999, anh P2 và anh P3 có nhượng cho anh 01 lô đất rộng
5m dài 36m diện tích 180m2, anh đã trả đủ tiền và nhận đất sử dụng,
nay đề nghị tiếp tục được sử dụng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số
04/2009/DSST ngày 29/10/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum tuyên xử:
Căn cứ khoản 5 Điều 25 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện “Chia thừa kế của chị Trần Thị Trọng
P1 và đơn xin “Chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” của bà
Trần Thị S đề ngày 08/10/2004 được bổ sung ngày
15/4/2009.
Căn cứ các điều 634, 636, 637, 640, 678,
679, 686; khoản 2 Điều 688, Điều 738, Điều 739, Điều
743 và Điều 238 Bộ luật Dân sự năm 1995, điểm b, khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai.
Xử:
Bà Trần Thị S được chia lô đất
có diện tích 3.201,5m2 trị giá 155.500.000đ ở 506/25
P, tổ 1, phường D, thành phố K (trừ diện tích
mương nước) có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp hẻm P rộng 37,66m.
- Phía Tây giáp lô cao su rộng 37,66m.
- Phía Nam giáp đất anh K dài 85m.
- Phía Bắc giáp đất bà S dài 85m.
- Và 01 lô đất có diện tích đất 800,37m2 (đã trừ mương nước) có tứ cận:
- Phía Đông giáp hẻm P rộng 9,41m.
- Phía Tây giáp lô cao su rộng 9,41m.
- Phía Nam giáp đất bà S dài 85m.
- Phía Bắc giáp nhà anh P3 dài 85m. Tại số
506/25 P, thành phố K, trị giá 38.875.000đ.
- Bà S có trách nhiệm trả cho
chị Lâm Thị H số tiền 9.000.000đ.
Anh Trần Trọng P3 được chia 01 lô đất ở
số 506/25 P, phường D, thành phố K diện tích 800,37m2
(đã trừ diện tích mương nước) trị giá 38.875.000đ có tứ cận:
- Phía Đông giáp hẻm P rộng 9,41m.
- Phía Tây giáp lô cao su rộng 9,41m.
- Phía Nam giáp đất bà S dài 85m.
- Phía Bắc giáp đất chị P1 dài 85m.
- Anh P3 được sở hữu một căn nhà gồm 01 nhà chính, 01 nhà phụ tổng diện tích là 54,64m2 trị giá 9.027.022đ, 01 xe máy Trung Quốc trị giá 5 triệu đồng, 02 máy bơm nước trị giá 800.000đ và 450kg cà ri trị giá 5 triệu đồng. Tổng cộng 19.827.022đ.
- Anh P3 phải trả cho bà S 8.828.628đ.
* Chị Trần Thị Trọng P1 được chia một lô
đất có diện tích 800,37m2 (đã trừ diện tích mương nước) trị giá
38.875.000đ tại 506/25 P, phường D, thành phố K có tứ cận:
- Phía Đông giáp hẻm P rộng 9,41m.
- Phía Tây giáp lô cao su rộng 9,41m.
- Phía Nam giáp đất, nhà anh P3 dài 85m.
- Phía Bắc giáp đất anh P2 dài 85m.
- Chị P1 phải trả cho anh P3 4.959.372đ;
trả cho bà S 1.875.000đ.
* Anh Trần Trọng P2 được chia 01 lô đất
diện tích 800,37m2 (đã trừ diện tích mương nước) trị giá 38.875.000đ
tại 506/25 P, tổ 1, phường D, thành phố K, có tứ cận:
- Phía Đông giáp hẻm P rộng 9,41m.
- Phía Tây giáp lô cao su rộng 9,41m.
- Phía Nam giáp đất chị P1 dài 85m.
- Phía Bắc giáp đất ông T dài 85m.
- Anh P2 có trách nhiệm trả
cho bà S 1.875.000đ, trả cho anh P3 4.959.372đ.
- Bà Trần Thị S, anh Trần Trọng
P2, anh Trần Trọng P3 và chị Trần Thị Trọng P1 có quyền đến cơ quan có thẩm quyền
làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định
về án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 11/11/2009, bị đơn là các anh Trần
Trọng P2, Trần Trọng P3 kháng cáo đề nghị bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 12/11/2009, người có quyền, nghĩa vụ
liên quan là bà Tô Thị T2 kháng cáo đề nghị bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại
hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, lời trình bày của các bên đương
sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét