NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Tô Thị T2 chung sống với ông Trần
Thế T1 từ năm 1969 có 2 con chung là Trần Trọng P2 và
Trần Trọng P3, đến năm 1982 bà T2 vào Bà Rịa - Vũng Tàu chung sống với ông Trần
Sinh D từ đó đến nay và đã có 3 con chung.
[2] Từ năm 1985 ông Trần Thế T1
và
bà Trần Thị S chung sống với nhau có con
chung là Trần Thị Trọng P1 cho đến năm 2003 thì ông T1 chết.
[3] Xét bà Tô Thị T2 chung sống với ông
T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ
vào Vũng Tàu lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa
ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn
nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án
sơ thẩm xử là đúng.
[4] Xét sau khi bà T2 không còn sống
chung với ông T1 thì năm 1985 ông T1 sống chung với
bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con
chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực tế nên
được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của
ông T1 là có căn cứ.
[5] Theo yêu cầu của anh P2, anh P3 đề
nghị giám định ADN để xác định chị P1 có phải con ông T1
không:
vấn đề này đã được trưng cầu giám định, nhưng hiện nay khoa học nước ta chưa
tách được nhân ADN từ hài cốt ông T1 nên không giám định được,
tuy nhiên trước đây các anh Trần Trọng P2, Trần Trọng P3, bà Tô Thị T2 cũng đã
có lời khai thừa nhận chị Trần Thị Trọng P1 là con ruột của ông Trần Thế T1 (BL 52, 53,
56) là phù hợp với lời khai của chị P1 và bà S và các chứng cứ
khác như giấy khai sinh, lời khai các nhân chứng. Vì vậy án sơ thẩm chấp nhận
chị P1 được hưởng thừa kế di sản của ông T1 là có căn cứ.
[6] Xét năm 1987 ông Trần Thế T1 được Ủy ban
nhân dân thị xã K cấp lô đất vườn tại phường Q (nay là phường D) thành phố K có
diện tích 8.500m2, hiện nay trên lô đất đã có 01 căn nhà cấp 4 do
ông T1 và bà S xây dựng và một số tài sản chung
khác.
[7] Xét trong quá trình sử dụng lô đất
nói trên theo lời khai của các đương sự cũng như qua xác minh thấy ông T1 và các con của
ông đã cắt bán cho một số người, đồng thời trên đất còn có công trình kênh
mương thủy lợi đi qua nên diện tích đất không còn như cũ.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 12/5/2005 có sơ đồ kèm theo
thì diện tích đất gia đình ông T1 đang quản lý là 5.610m2
và 540m2 anh P2 bán cho anh L, ông C thì tổng diện
tích là 6.150m2 từ đó cho đến ngày xử sơ thẩm (ngày 29/10/2009) cấp
sơ thẩm không tiến hành mời địa chính đo đạc lại để xác định chính xác diện
tích thực tế của lô đất đang tranh chấp hiện tại còn bao nhiêu m2,
năm 2009 bà S cũng đã có đơn yêu cầu đo đạc lại đất, nhưng cấp
sơ thẩm không tiến hành đo lại mà vội chấp nhận theo lời của bà S, chị P1, anh P3, anh
P2 rằng diện tích đất ông T1, bà S tạo lập hiện
còn lại là 6.403m2 để cắt chia là chưa
đảm bảo tính chính xác sẽ dễ dẫn đến khó khăn ách tắc trong khi thi hành án. Đồng
thời cấp sơ thẩm cũng chưa yêu cầu anh P2 đến lô đất tranh chấp để đo đạc xác định
vị trí của lô đất có diện tích 3.000m2 mà anh P2 cho rằng anh mua của
ông A để xem xét có cơ sở hay không, những vấn đề này cấp phúc thẩm
không thể khắc phục được do đó cần hủy án sơ thẩm để
giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[8] Các đương sự không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét