NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2] Về tố tụng: kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn K, Phạm Văn L
và Mai Thị H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án
sơ thẩm đã nêu, cụ thể:
[4] Giữa các bị cáo Bùi Thị T, Mai Thị H1, Lê Thị Tuyết H và anh Nguyễn Hồng
T1 có mối quan hệ quen biết do làm ăn chung về việc mua bán đất đai (trong đó,
T, H là người bán đất, H1 là người mua đất còn T1 là người trung gian, giới thiệu).
Trong quá trình làm ăn chung phát sinh mâu thuẫn về vấn đề nợ nần tiền bạc,
theo đó anh T1 còn nợ tiền của bị cáo T và chị H, bị cáo T đã nhiều lần yêu cầu
anh T1 phải trả nhưng anh T1 cố tình không trả nợ và chặn điện thoại của bị cáo
T, nên bị cáo T nhờ bị cáo K giúp bị cáo T hẹn anh T1 gặp để đòi nợ. Bị cáo K đồng
ý và rủ bị cáo L đi cùng. Sáng ngày 24/10/2019, sau khi bị cáo K hẹn được anh
T1, bị cáo T thuê xe ô tô của Nguyễn Văn T2 (là chồng của bị cáo H1) để chở bị
cáo L và K cùng đi đến quán cà phê “Na Na” (thuộc phường A, thành phố B, tỉnh Đồng
Nai). Trên xe đi đến quán “Na Na” gồm có T2 điều khiển xe, chở các bị cáo T, L,
K và H1 cùng đi đến quán. Đến nơi, T2 đậu xe ở bên ngoài còn lại tất cả đi vào
quán cà phê “Na Na” gặp T1. Tại đây, bị cáo T đưa ra giấy nợ yêu cầu anh T1 phải
trả nợ cho T, nhưng giấy nợ thể hiện anh T1 nợ H 211.000.000 đồng, nên anh T1
không đồng ý trả nợ cho T và yêu cầu T gọi H đến quán “Na Na” để giải quyết.
Sau khi cầm giấy nợ (do T đưa), T1 bỏ đi vào nhà vệ sinh và xé bỏ. Khi H đến
quán “Na Na”, bị cáo T phát hiện T1 tiêu huỷ giấy nợ nên T yêu cầu T1 phải ghi
lại giấy nợ khác, đồng thời bị cáo T nói bị cáo H1 lấy giấy trắng đưa cho T1 để
T1 ghi lại giấy nợ. Do nhiều lần T1 viết không đúng nội dung (mỗi lần viết sai
T đều nói H1 lấy giấy cho T1 viết lại) nên bị K đấm vào mặt một cái. Sau đó, K
và L mỗi bị cáo giữ 01 tay anh T1 và kéo T1 ra xe ôtô do T2 chờ bên ngoài, ép
T1 lên xe để T2 chở đi nơi khác. Trên xe, H1 ngồi hàng ghế đầu phía trước bên
phải (cạnh T2), hàng ghế thứ 2 gồm T1 ngồi giữa, L và K ngồi hai bên giữ T1,
còn T ngồi hàng ghế sau cùng, H đi xe môtô theo sau. Khi đi đến ngã tư Vũng
Tàu, thấy nhiều người đi đường nên T1 la lên để nhờ giải cứu thì bị L giơ tay
đe dọa, lúc này lo sợ bị đánh nên T1 không tiếp tục kêu cứu nữa. Khi đến khu vực
lô C (thuộc khu X, xã Y, huyện G, tỉnh Đồng Nai), bị cáo K nói T2 lái xe vào lô
cao su này, sau khi dừng, các bị cáo L, K và T ngồi trên xe, tiếp tục lấy giấy,
viết của H1 để ép T1 viết giấy nợ T số tiền 60.000.000 đồng. Nhưng T1 vẫn không
viết, xin xuống xe viết, trong lúc đang viết giấy nợ, T1 thấy 01 xe bồn chạy
ngang nên T1 bỏ chạy cầu cứu nhưng bị K dùng đoạn gỗ cao su đánh vào người T1
và nói “giờ còn tờ giấy cuối cùng mày có viết không thì nói”. Vì lo sợ bị đánh
nên T1 viết giấy nợ T số tiền 60.000.000 đồng (trong đó thế chấp 01 xe mô tô
60F2 - 858.45 với giá 30.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng). Sau khi viết
giấy nợ xong, T nói H đưa thỏi son môi của H để lăn vào ngón tay của T1 và bắt
T1 điểm chỉ vào giấy nợ, H1 và H ký xác nhận vào giấy nợ với tư cách là người
làm chứng. Sau đó, T lục túi quần của T1 lấy 01 ví đựng tiền, trong ví có số tiền
1.400.000 đồng. T lấy 1.000.000 đồng trả cho T2, 400.000 đồng T cất giữ. Tổng số
tiền chiếm đoạt của anh T1 là 61.400.000 đồng.
[5] Với hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn K và
Phạm Văn L đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Cướp tài sản” theo điểm d
“sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”, điểm đ “chiếm đoạt
tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” khoản 2 Điều 168
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Bắt người trái
pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.
[6] Xét kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn K và Phạm Văn L:
[7] Hành vi của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn K và Phạm Văn L là nguy
hiểm cho xã hội, đã không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp,
quyền tự do thân thể của người khác, được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng
xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương...
[8] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có một phần lỗi (tự ý xé giấy nợ) và xin giảm
nhẹ hình phạt cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017)...
[9] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Phạm Văn L xin giảm
nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác
chưa được xem xét. Bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới, do đó kháng
cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận. Bị cáo Bùi Thị T xin giảm nhẹ hình phạt
và cung cấp đơn xác nhận gia đình hoàn cảnh khó khăn (được chính quyền địa
phương xác nhận), Huy chương kháng chiến hạng nhất của bà Bùi Thị T4 (mẹ bị
cáo) và Huy chương kháng chiến hạng nhì của ông Bùi Đình T5 (cha bị cáo) là các
tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017) chưa được cấp sơ thẩm xem xét, ngoài ra Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy: bị cáo là nữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế (lớp 9/12); quá
trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo còn bị bệnh Covid-19, do đó, Hội đồng
xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Bùi
Thị T...
[10] Xét kháng cáo của bị cáo Mai Thị H1:
[11] Đối với chiếc xe ô tô 60A - 242.93 do các bị cáo sử dụng làm phương
tiện phạm tội, do chính bị cáo Nguyễn Văn T2 (là chồng của bị cáo Mai Thị H1)
điều khiển, có chủ sở hữu là chị Phạm Thị Anh Đ (theo giấy đăng ký xe và Phiếu
trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Phòng CSGT - Công
an tỉnh Đồng Nai). Ngày 10/4/2018, chị Đ và anh T3 đã bán xe trên cho ông Lê
Thành N, hình thức hợp đồng uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định.
Ngày 20/3/2019, ông N bán xe trên lại cho bị cáo Mai Thị H1, hình thức hợp đồng
uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định. Mặc dù về pháp lý, chiếc xe
trên vẫn đứng tên chị Phạm Thị Anh Đ nhưng thực tế đã bán cho bị cáo H1 và bị
cáo H1 là chủ sở hữu, bởi lẽ căn cứ vào phạm vi ủy quyền của 02 hợp đồng ủy quyền
nêu trên thì bị cáo H1 có đủ 03 quyền của chủ sở hữu gồm chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt (cầm cố, tặng cho, cho thuê hoặc bán...). Việc này cũng được chị Đ,
anh T3 và ông N đều xác nhận đã bán, đã nhận tiền đầy đủ, giao xe (chị Đ và ông
N không yêu cầu, thắc mắc gì đối với xe trên, đề nghị Toà án xét xử theo pháp
luật). Từ phân tích trên, đủ cơ sở xác định chiếc xe ô tô 60A - 242.93 là của bị
cáo Mai Thị H1. Do đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình
sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên tịch
thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô 60A - 242.93 (hiệu KIA loại ô tô
con, màu trắng, số máy G4KAEH410974, số khung 51M5FC061659 kèm theo giấy đăng
ký xe) do bị cáo T2 và H1 sử dụng làm phương tiện phạm tội là phù hợp, đúng quy
định pháp luật.
[12] Về án phí:
[13] Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn K, Phạm Văn L và Mai Thị H1
không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[14] Kháng cáo của bị cáo Bùi Thị T được chấp nhận nên bị cáo không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[15] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng
Nai phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một
phần. Đối với đề nghị bác kháng cáo của bị cáo T không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[16] Quan điểm và đề nghị của luật sư V bào chữa cho bị cáo H1 không phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét