NHẬN
ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Cụ Phạm
Văn H (chết năm 1978) và vợ là cụ Ngô Thị V có 7 con chung là ông Phạm Văn H3,
ông Phạm Văn Đ (chết năm 1998), ông Phạm Văn T, ông Phạm Văn Q (chết năm 2000),
bà Phạm Thị H, Phạm Thị H1, Phạm Thị H2. Sinh thời các cụ có tạo lập được gian
nhà tranh vách đất trên khoảng 464m2 đất tại phố H, thị trấn Q, tỉnh
Hà Tây (cũ, nay là thành phố Hà Nội). Đất có nguồn gốc các cụ được chia trong cải
cách ruộng đất.
[2] Sau
khi cụ H chết, vợ chồng ông H3, bà N ở và trông nom nhà đất, còn cụ V và những
người con khác đi xây dựng kinh tế mới ở Miền Nam. Năm 1983, vợ chồng ông H3
chuyển đến nhà đất nơi khác ở nhưng vẫn trông nom quản lý nhà, đất. Ủy ban nhân
dân huyện Q xác nhận sổ sách địa chính lưu giữ tại Ủy ban nhân dân cho thấy mảnh
đất của các cụ được chia làm 2 thửa, một thửa mang số 210 diện tích 162m2
do ông H3 đứng tên và thửa 213 diện tích 300m2 do ông T đứng tên.
Sau đó, cụ V quay về nhà đất này và ở tại đây cho đến khi qua đời vào năm 1994.
Sau khi về, cụ đã họp các con và đứng ra phân chia toàn bộ thửa đất thành bốn
phần riêng biệt cho các con, không ai có ý kiến gì và đều thống nhất thực hiện
việc phân chia này. Như vậy, việc ông T, ông H3 đồng ý cùng với cụ V chia 464m2
đất đã thể hiện việc ông T, ông H3 chỉ là người đứng tên trong giấy tờ sổ sách
giấy tờ về địa chính, nhà đất vẫn là của cụ V, cụ H chưa chia. Ông H3 cũng
không đưa ra được chứng cứ chứng minh 162m2 là tài sản riêng của
ông.
[3] Phần
chia cho ông Đ (94m2), ông Q (78m2), ông T (189m2),
các ông đều đã nhận đất sử dụng sau đó đã được đăng ký đứng tên chủ sử dụng đất,
hoặc chuyển nhượng cho người khác thì cũng đã đăng ký điều chỉnh trong các giấy
tờ về đất, cho đến nay không ai có tranh chấp gì. Đối với phần đất 110m2
còn lại (là phần có 7m ngang mặt đường) do ông H3 quản lý, đến năm 2004 do ông
chia đất cho các con của mình nên bà H, bà H1, bà H2 mới có tranh chấp đòi lại
44,4m2. Thực tế thời điểm cụ V chia đất, các con đều đã trưởng
thành, một số có gia đình riêng có nhu cầu về đất ở, riêng ông H3 đã có nhà đất;
bà H, bà H1 và bà H2 đang ở Bình Phước nên bốn người này chưa có nhu cầu xây dựng
nhà ở. Ông T thừa nhận việc cụ V chia đất, tất cả các con đều đồng ý và ông T
xác định phần đất 110m2 do ông H3 quản lý là cụ V chia cho ông H3 và
bà H, bà H1 và bà H2. Ông T đề nghị Tòa án giải quyết để bà H, bà H1, bà H2 được
nhận lại tài sản của mình. Vợ của ông Đ, ông Q là bà T, bà H4 và các con của
ông Đ, ông Q, tuy không biết cụ thể việc phân chia nhưng đều thống nhất là cụ V
đã chia đất xong cho các con rồi nên các bà không có yêu cầu gì và phần 110m2
để cho ông H3, bà H, bà H2 hưởng phần đất này. Do đó, có đủ cơ sở xác định cụ V
có chia đất cho bà H, bà H1 và bà H2 và phần đất này ông H3 quản lý.
[4] Với
các chứng cứ trên, đủ cơ sở xác định nhà đất của cụ V, cụ H đã được cụ V và các
thừa kế của cụ H thống nhất phân chia tài sản chung xong từ năm 1991 và đủ cơ sở
xác định phần đất 110m2 trong đó phần bà H, bà H1 và bà H2 là 44,4m2.
Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên sổ
sách giấy tờ về đất đai; thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ
thừa kế nào, không ai tranh chấp nên có cơ sở xác định nhà, đất không còn là di
sản thừa kế của cụ V, cụ H nữa mà đã chuyển thành quyền sử dụng đất hợp pháp của
các cá nhân. Vì vậy, bà H, bà H1, bà H2 chỉ có quyền khởi kiện đòi lại 44,4m2
đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp do được chia từ năm 1991; tài sản là di sản thừa
kế của cha mẹ không còn nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu chia di sản của cụ
H, cụ V nữa.
[5] Đơn
khởi kiện ban đầu và các lời khai trước khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án
vào năm 2010, các nguyên đơn chỉ đòi lại 44,4m2 đất này. Nhưng sau
khi thụ lý sơ thẩm lại vụ án, các nguyên đơn lại thay đổi lời khai, yêu cầu
chia di sản thừa kế phần 110m2 đất là tài sản của cha, mẹ để lại
đang do ông H3 quản lý, là không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm không
làm rõ lời khai đương sự về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này, quyết định chấp
nhận yêu cầu chia thừa kế 110m2 đất; Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm, đều không có cơ sở.
Vì các lẽ
trên, căn cứ khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297 và khoản 2 Điều 299 Bộ luật Tố
tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011);
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét