NHẬN ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN
[1]. Tại
Công văn số 424/UBND ngày 07/9/2017 của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U,
tỉnh Q trả lời Tòa án nhân dân tỉnh Q có nội dung: "Hiện nay tại Ủy
ban nhân dân phường P sổ gốc đăng ký kết hôn chỉ còn lưu từ năm 1989 đến nay,
còn từ năm 1988 trở về trước Ủy ban nhân dân phường P không còn lưu trữ được. Sổ
đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân phường P còn lưu từ năm 1989 đến nay không
có lưu trường hợp đăng ký kết hôn của ông Phạm Bá H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn
Thị S, sinh năm 1960”. Quá trình giải quyết vụ án, bà S không cung cấp được
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa bà S với ông H. Do đó, không có căn cứ xác
định bà S và ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào năm 1980.
[2]. Căn cứ
Biên bản xác minh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường P và lời khai của
những người làm chứng, trong đó có lời khai cùa ông Bùi Ngọc C (người cao tuổi,
hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ đẻ bà S), ông Nguyễn Văn N (Khu trưởng Khu Hiệp
Thanh, phường P) đều khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H và bà Nguyễn Thị S có tổ chức
đám cưới, chung sống với nhau; sau đó, hai ông bà vượt biên.
[3]. Tại Bản
chứng thực bản sao sổ khai sinh của anh Phạm Hồng K, sinh ngày 07/8/1981, thể
hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là Nguyễn Thị S. Như vậy, có cơ sở xác định
bà S và ông H có thời gian chung sống tại Việt Nam và bà S sang Hồng Kông sau
khi đã mang thai anh Phạm Hồng K.
[4]. Ngoài
ra, Bản sao sổ hộ khẩu số 500296496 do Công an thành phố M cấp ngày 03/11/2014
và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015 tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh
Q cũng thê hiện ông Phạm Bá H có vợ là bà Nguyễn Thị S.
[5]. Theo
quy định tại điểm a Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc
hội “a. Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03
tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa
đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu
cầu ly hôn thì Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn theo quy định của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;..”
[6]. Điểm d
Mục 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 03/01/2001 quy
định: “Nam nữ được coi là sống chung với nhau như vợ chồng nếu họ có đủ
điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và và gia đình năm 2000 và
thuộc một trong các trường hợp sau: Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với
nhau; Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc hai bên) chấp
nhận; Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; Họ
thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia
đình”.
[7]. Điểm b
khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC- VKSNDTC-BTP quy định
người được coi là đang có vợ, chồng gồm "Người xác lập quan hệ vợ
chồng với người khác trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly
hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị
tuyên bố là đã chết”.
[8]. Do đó,
có cơ sở xác định quan hệ giữa bà S và ông H sống chung với nhau như vợ chồng
trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được
pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.
[9]. Việc
ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09
ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Q trong khi đang tồn tại
quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
và quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ủy
ban nhân dân tỉnh Q thực hiện việc đăng ký kết hôn cho ông H và bà L là không
đúng quy định của pháp luật.
[10]. Tòa án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật
giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật là có
căn cứ.
[11]. Tòa án
cấp phúc thẩm nhận định: "Theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu lực về không gian,
thời gian và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Còn việc ông H và bà S ăn ở với
nhau bất hợp pháp chủ yếu là ở nước ngoài và sinh sống vào thời điểm ở trước và
sau năm 1987, năm 2000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam được ban hành, sửa đổi... ” từ đó không công nhận quan hệ giữa ông
H và bà S là vợ chồng và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L là quan
hệ hôn nhân hợp pháp là không đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ
trên;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét