NHẬN ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi
nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và
căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về tố tụng:
[3] Bị đơn
có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
nên xác định là hợp lệ.
[4] Đối với
sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có đơn kháng
cáo, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không
có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo
quy định của pháp luật.
[5] Về nội
dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn
[6] Căn cứ
xác định quyền sở hữu diện tích trông giữ xe tại hai tầng hầm:
[7] Công ty
cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển đô thị S được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền cấp phép là chủ đầu tư dự án Tòa nhà hỗn hợp H, địa chỉ tại 131 đường A,
phường B, quận C, Hà Nội. Dự án này có 34 tầng nổi (chưa bao gồm tầng kỹ thuật
và tầng mái) và 2 tầng hầm, trong đó từ tầng 1 đến tầng 8 là khu dịch vụ,
thương mại, văn phòng. Công ty đã bán và cho thuê diện tích trong tòa nhà theo
đúng công năng sử dụng. Ngày 26/9/2016, tại Hội nghị nhà chung cư lần đầu đã
ban hành Quy chế và thành lập Ban quản trị Tòa nhà hỗn hợp H gồm 03 người đại
diện cho khối cư dân, 01 người đại diện cho phía chủ đầu tư và 01 người đại diện
cho khối thương mại, văn phòng. Ban quản trị tòa nhà được tổ chức hoạt động
theo mô hình Hội đồng quản trị của Hợp tác xã và được Ủy ban nhân dân quận Đ
công nhận theo Quyết định số 10974/QĐ - UBND ngày 15/11/2016 (sau đó được sửa đổi
2 lần). Theo quy chế hoạt động của Ban quản trị thì phải có một Công ty quản lý
vận hành tòa nhà. Công ty TNHH MTV quản lý và kinh doanh dịch vụ D đang làm quản
lý vận hành tiếp tục là đơn vị thực hiện quản lý, vận hành Tòa nhà. Ngày
24/8/2017, Ban quản trị tòa nhà đã ký hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà
chung cư số 01/2017/HĐDV với đơn vị cung cấp dịch vụ quản lý vận hành nhà chung
cư mới là Công ty cổ phần G. Tháng 2/2019 Ban quản trị lại ký Hợp đồng dịch vụ
quản lý vận hành nhà chung cư với Công ty Y.
[8] Nguyên
đơn - Công ty S cho rằng, Ban quản trị đã xâm phạm quyền sở hữu của Công ty S
vì đã chiếm đoạt diện tích trông giữ xe tại hai tầng hầm, tự xây bịt cửa kho
phía sau siêu thị tầng 1. Việc Ban quản trị ký hợp đồng quản lý vận hành nhà
chung cư không thực hiện theo đúng quy định tại Điều 14 và Điều 25 Thông tư số
02/2016/TT-BXD: Không có sự đồng thuận của ít nhất 75% (4/5) thành viên Ban quản
trị tòa nhà về việc đề xuất thay đổi đơn vị quản lý vận hành; không đạt được sự
đồng thuận của ít nhất trên 50% đại diện chủ sở hữu tòa nhà; Nội dung hợp đồng
dịch vụ quản lý vận hành xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ đầu tư (tự định đoạt
phần trông giữ xe tại 02 tầng hầm).
[9] Xét thấy,
thời điểm Công ty được duyệt dự án đầu tư xây dựng Tòa nhà hỗn hợp H cũng như
thời điểm Công ty thực hiện dự án và ký Hợp đồng mua bán căn hộ với khách hàng
được thực hiện từ cuối năm 2008 - 2010. Căn cứ Luật Nhà ở năm 2005 và Nghị định
71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở,
tại điểm b, khoản 1, Điều 49 quy định: “Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của
chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện
tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ)”;
[10] Điểm c,
khoản 2, khoản 3, Điều 49 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP quy định phần sở hữu
chung nhà chung cư như sau:
[11] “Nơi để
xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy
chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện
tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư.
[12] Đối với
khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu
tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc
sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư....
[13] Phần sở
hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư quy định tại điều này phải được ghi
rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.”
[14] Điểm c
khoản 8 Điều 4 Quyết định số 01/2013/QĐ-UBND ngày 04/01/2013 quyết định về việc
ban hành quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trong phần giải thích từ ngữ (Thực hiện Điều 70 Luật Nhà ở, Điều 49 Nghị định số
71/2010/NĐ-CP, Điều 4 Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD) (Theo Quyết định số 01 của Ủy
ban nhân dân thành phố Hà Nội giải thích từ ngữ của Nghị định này thì: Đối với
khu vực để xe ô tô trong tầng hầm do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu
chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu
nhà chung cư; Trường hợp nơi để ô tô trong tầng hầm được phân bổ vào giá bán
căn hộ cho các chủ sở hữu nhà chung cư thì thuộc phần sở hữu chung, trường hợp
chưa phân bổ vào giá bán căn hộ thì thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư”.)
[15] Tại
Công văn số 279 ngày 18/10/2017 của Bộ Xây dựng gửi Công ty cổ phần đầu tư xây
dựng và phát triển đô thị S (BL370) trích dẫn: “...theo tài liệu gửi kèm thì
trong hợp đồng mua bán căn hộ ký giữa Công ty và khách hàng không có thoả thuận
về phần sở hữu chung, sở hữu riêng. Do vậy, chủ đầu tư cần phải có các giấy tờ
tài liệu để chứng minh chưa phân bổ chi phí đầu tư xây dựng đối với phần diện
tích khu tầng hầm và khu dịch vụ thương mại vào giá bán căn hộ. Trong trường hợp
giấy tờ, tài liệu chứng minh chủ đầu tư chưa tính các chi phí đầu tư xây dựng
phần diện tích nêu trên vào giá bán căn hộ cho người mua thì phần diện tích này
thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư, và chủ đầu tư phải đảm bảo sử dụng đúng mục
đích, công năng thiết kế các diện tích này theo hồ sơ dự án đã được cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt cũng như những quy định có liên quan trong hợp đồng mua
bán với khách hàng.
[16] Việc
xác định chủ đầu tư đã phân bổ hay chưa phân bổ chi phí đầu tư xây dựng đối với
phần diện tích tầng hầm và khu dịch vụ thương mại vào giá bán căn hộ được căn cứ
vào nội dung dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và báo cáo tài chính
đã được kiểm toán..
[17] Tại
Công văn số 2.0018/19/CV/KTTV ngày 23/10/2019 của Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm
toán và Tư vấn E tại Hà Nội gửi Tòa án nhân dân quận Hà Đông thể hiện:
[18] “1. Chi
phí xây dựng Tòa nhà hỗn hợp H phân bổ cho 2 tầng hầm là 30.229.191.000 đồng được
ghi nhận tăng tài sản cố định của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển
đô thị S, không phân bổ vào giá thành căn hộ chung cư.
[19] 2. Trên
báo cáo tài chính đã được kiểm toán hàng năm của Công ty thể hiện các loại thuế
Công ty phải nộp cho nhà nước gồm: Thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
thu nhập cá nhân, thuế môn bài, thuê đất... trong đó:
[20] - Thuế
GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ
trông giữ xe tại hai tầng hầm được Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển
đô thị S kê khai và nộp thuế thể hiện trên Báo cáo tài chính hàng năm từ 2017
trở về trước. Báo cáo tài chính năm 2018 và 6 tháng năm 2019 của Công ty không
còn phản ánh hoạt động kinh doanh này.
[21] - Thuế
đất đối với diện tích xây dựng tòa nhà hỗn hợp H, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng
và phát triển đô thị S nộp theo thông báo của Chi cục Thuế quận Hà Đông là
23.850.000 đồng/năm.”
[22] Căn cứ
vào các quy định cũng như các văn bản trả lời của Bộ Xây dựng và Chi nhánh Công
ty Kiểm toán và Tư vấn E nêu trên xác định, phần diện tích thuộc sở hữu chung của
các chủ sở hữu nhà chung cư là nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động
cơ hai bánh). Riêng đối với khu vực để xe ô tô trong tầng hầm do chủ đầu tư quyết
định thuộc quyền sở hữu chung hoặc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.
Theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư thì nơi để xe ô tô trong tầng hầm không
được phân bổ vào giá bán căn hộ nên xác định là sở hữu riêng của chủ đầu tư. Do
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S về
việc công nhận quyền sở hữu phần diện tích trông giữ xe ô tô tại tầng hầm 1 và
tầng hầm 2 của Tòa nhà hỗn hợp H có địa chỉ tại 131 đường A, phường B, quận C,
Hà Nội thuộc quyền sở hữu riêng của chủ đầu tư là có căn cứ.
[23] Theo hồ
sơ thiết kế bản vẽ thi công được Công ty phê duyệt tại Quyết định số 32
QĐ/CT-KT ngày 27/3/2009; bản vẽ hoàn công ngày 31/12/2010 và trình bày của
nguyên đơn thì diện tích sàn để xe tầng hầm 1 là 2.330m2, trong đó bố trí 26 chỗ
để ô tô và 555 chỗ để xe máy, tuy nhiên do khi thiết kế thi công vị trí đặt máy
phát điện tại tầng hầm 2 không đảm bảo nên Công ty S đã chuyển máy phát điện từ
tầng hầm 2 lên tầng hầm 1. Tại bản vẽ chi tiết thể hiện vị trí máy phát điện được
bố trí vào vị trí chỗ để 16 xe máy, nằm trong phạm vi từ trục A đến trục B phía
ngoài cùng từ trục 1 kéo dài, diện tích khoảng 42m2 (giáp khu kỹ thuật thông
gió), chỗ để 16 xe máy được bố trí vào vị trí hai chỗ để xe ô tô (ô số 12, 13)
nằm trong phạm vi từ trục C đến trục D, từ trục 5 đến trục 6. Như vậy chỗ để xe
ô tô tại tầng hầm 1 thực tế chỉ bố trí 24 xe;
[24] Diện
tích sàn để xe tầng hầm 2 là 2.050m2, trong đó bố trí 68 chỗ để ô tô và 67 chỗ
để xe máy;
[25] Để có
cơ sở xác định vị trí chỗ để xe ô tô, chỗ để xe máy, sau phần tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm ngày 06/3/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tạm ngừng
phiên tòa để tiến hành xem xét, thẩm định, xác định vị trí nơi để xe làm cơ sở
giải quyết vụ án, tuy nhiên ngày 19/3/2020 khi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
đến vị trí tầng hầm của tòa nhà để tiến hành xem xét, thẩm định theo Quyết định
tạm ngừng phiên tòa ngày 06/3/2020, phía bị đơn đã triệu tập nhiều người không
phải đương sự trong vụ án đến tham gia buổi xem xét thẩm định, những người này
đã cản trở và không cho thực hiện việc xem xét, thẩm định của Tòa án nên việc
xem xét, thẩm định không thực hiện được, lỗi thuộc về phía bị đơn.
[26] Do vậy
để có cơ sở xác định vị trí chỗ để xe ô tô, xe máy, sau khi nghe các đương sự
trình bày tại phiên toà; xem xét văn bản giải thích của phía nguyên đơn kèm
theo bản vẽ chi tiết, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với bản vẽ thiết kế thi công
và bản vẽ hoàn công do phía nguyên đơn cung cấp tại giai đoạn sơ thẩm, trên cơ
sở đó xác định vị trí và diện tích chỗ để xe ô tô, xe máy tại hai tầng hầm tòa
nhà này làm căn cứ giải quyết vụ án.
[27] Căn cứ
Quyết định số 26/2004 ngày 2/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành
TCXDVN 323:2004 “Nhà ở cao tầng - tiêu chuẩn thiết kế”
[28] - Chỗ để
xe ô tô tiêu chuẩn diện tích là 25m2/xe;
[29] - Chỗ để
xe môtô, xe máy: tính 2 xe máy/hộ với tiêu chuẩn diện tích từ 2,5m2/xe đến
3,0m2/xe và 1 xe đạp/hộ với tiêu chuẩn diện tích 0,9m2/xe.
[30] Tòa nhà
hỗn hợp H có 228 căn hộ x 2 xe máy/1 hộ = 456 xe máy x 2,5m2/xe = 1.140m2 và 01
xe đạp/01 hộ = 228 xe x 0,9m2 = 205,2m2. Tổng diện tích bố trí làm nơi để xe
máy, xe đạp là 1.345,2m2. Theo bản vẽ thiết kế và hồ sơ hoàn công thì nơi bố
trí để xe máy tầng hầm 1 là 555 xe máy; tầng hầm 2 là 67 xe máy, tổng cộng 622
xe x 2,5m2/xe = 1.555m2 (nhiều hơn phần diện tích bố trí nơi để xe cho 228 căn
hộ).
[31] Tuy
nhiên Tòa án cấp sơ thẩm chỉ lấy tổng diện tích chỗ để xe của hai tầng hầm trừ
đi diện tích chỗ để xe máy, diện tích còn lại được xác định là chỗ để xe ô tô của
chủ đầu tư là không chính xác, không phù hợp với bản vẽ thiết kế và hồ sơ hoàn
công, khó khăn cho việc thi hành án, do vậy Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại phần
này, phù hợp với diện tích và vị trí chỗ để xe ô tô, xe máy trên thực tế của
các bên.
[32] Đối với
yêu cầu tuyên bố hai Hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư số
01/2017/HĐDV ký ngày 24/8/2017 giữa Ban quản trị tòa nhà với Công ty cổ phần G
và Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 02/2019/HĐDV/BQT-YB ký ngày 01/2/2019 giữa Công
ty TNHH quản lý vận hành nhà chung cư Y với Ban quản trị tòa nhà là vô hiệu,
xét thấy:
[33] Ban quản
trị Tòa nhà hỗn hợp H được Hội nghị nhà chung cư bầu ra và được UBND quận Hà
Đông công nhận theo Quyết định số 10974 ngày 15/11/2016 (thay đổi lần 1 ngày
03/4/2018 và thay đổi lần 2 ngày 27/8/2018). Theo quy định của pháp luật thì
Ban quản trị được phép ký hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư với
Công ty có chức năng về quản lý vận hành nhà chung cư nhưng phải thực hiện đúng
theo trình tự pháp luật quy định, tuy nhiên khi ký hợp đồng dịch vụ với hai
công ty quản lý vận hành nêu trên, Ban quản trị đã không thực hiện đúng theo
trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư số 02/2016/TT-BXD, ngày 15/2/2016 của Bộ
Xây dựng và Quy chế hoạt động của Ban quản trị, tự ý thay đổi công ty quản lý vận
hành; không tổ chức Hội nghị nhà chung cư, không được tối thiểu 50% đại diện chủ
sở hữu căn hộ đã nhận bàn giao tham dự hội nghị đồng ý; không tổ chức họp thành
viên Ban quản trị, không được tối thiểu 75% thành viên của Ban quản trị nhà
chung cư tán thành; Bị đơn trình bày đã thanh lý hợp đồng với Công ty G, nhưng
Công ty G trình bày thực tế đã chấm dứt việc quản lý vận hành tòa nhà từ tháng
2/2019 đến nay nhưng hai bên chưa có văn bản thanh lý hợp đồng. Việc Ban quản
trị ký tiếp hợp đồng cung cấp dịch vụ với Công ty TNHH quản lý vận hành nhà
chung cư Y khi chưa thanh lý hợp đồng với Công ty cổ phần G là không đúng quy định
của pháp luật. Hai hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nêu trên hiện vẫn tồn tại
trên thực tế. Nội dung hợp đồng xâm phạm đến quyền lợi của chủ đầu tư (quản lý
cả hai tầng hầm). Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
tuyên bố hai hợp đồng dịch vụ quản lý vận hành nêu trên vô hiệu là có căn cứ.
[34] Tuy
nhiên do các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
trong vụ án này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là đúng quy định của pháp
luật. Trong trường hợp không thoả thuận được, các đương sự có quyền khởi kiện bằng
vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[35] Đối với
việc xác định quyền sở hữu 3 tầng thương mại của Tòa nhà hỗn hợp H trong đó có
bức tường xây phía sau tầng 1. Căn cứ Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/3/2008
của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc Duyệt dự án đầu tư xây dựng tòa nhà hỗn hợp
H; Công văn 9906/UBND-XD ngày 06/12/2010 của UBND thành phố Hà Nội về việc chuyển
đổi chức năng các tầng 6, 7, 8 từ chức năng căn hộ sang chức năng Văn phòng;
Công văn số 7495/VP-QHKT ngày 05/11/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về
việc chuyển đổi công năng tầng 4, 5 từ chức năng thương mại sang chức năng văn
phòng. Đây là cơ sở xác định 03 tầng thương mại tại tòa nhà hỗn hợp H thuộc quyền
sở hữu của chủ đầu tư. Chủ đầu tư đã thực hiện bán và cho thuê theo đúng công
năng sử dụng. Trên cơ sở đó, ngoài việc xác định về quyền sở hữu, Tòa án cấp sơ
thẩm đã quyết định, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển đô thị S có
quyền tháo dỡ, khôi phục nguyên trạng cửa phía sau tầng 1 của tòa nhà hỗn hợp H
như ban đầu theo đúng hồ sơ thiết kế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
là có căn cứ.
[36] Đối với
việc bị đơn có yêu cầu chủ đầu tư phải quyết toán và bàn giao kinh phí bảo trì,
bàn giao hồ sơ tòa nhà, hoàn thiện và bàn giao hệ thống phòng cháy, chữa cháy,
bàn giao và kiểm đếm các thiết bị tòa nhà, bàn giao diện tích chung, riêng cho
Ban quản trị đại diện cho cư dân... Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án
tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem
xét, giải quyết là đúng quy định của pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm không có
cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn đối với nội dung này.
[37] Đối với
việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Đỗ Thái S1 và Công
ty G phải bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm trái phép làm ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của Công ty S. Việc rút một phần yêu cầu này là hoàn toàn
tự nguyện, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ là đúng quy định của pháp luật.
[38] Tuy
nhiên trong phần trích dẫn các quy định của pháp luật, có một số nội dung Tòa
án cấp sơ thẩm trích dẫn chưa đầy đủ, thiếu chính xác. Bị đơn kháng cáo nội
dung này là có cơ sở, Tòa án cấp phúc thẩm cần sửa lại cho phù hợp quy định của
pháp luật. Các nội dung kháng cáo khác của bị đơn không có căn cứ nên Hội đồng
xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận.
[39] Phát biểu
của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và quan điểm đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội là có căn cứ nên được chấp
nhận.
[40] Về án
phí: Ban quản trị Tòa nhà hỗn hợp H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển đô thị S được chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với một phần yêu cầu
khởi kiện không được chấp nhận;
Vì các lẽ
trên,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét